Dự phòng rủi ro tín dụng là gì? Nhân tố ảnh hưởng đến dự phòng RRTD

Dự phòng rủi ro tín dụng là hoạt động mà ngân hàng cần thực hiện nhằm duy trì quỹ dự phòng để bù đắp tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về khái niệm Dự phòng rủi ro tín dụng là gì?nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Dự phòng rủi ro tín dụng là gì?

Trong hoạt động kinh doanh tài chính tín dụng, ngân hàng khi nhận thấy có khả năng không thu hồi được toàn bộ hoặc một phần khoản nợ cho vay của khách hàng khi đến hạn do khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết thì khi đó ngân hàng sẽ cần quỹ dự phòng để bù đắp những tổn thất tín dụng đó. Việc trích lập dự phòng để xử lý rủi ro là cấp thiết để đảm bảo an toàn cho hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Về khái niệm, theo Quyết định số 493/2005 / QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, dự phòng rủi ro tín dụng được xác định là một khoản được trích lập để dự phòng những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.

Còn Theo quy định tại Thông tư 02/2013 / TT-NHNN ngày 21/01/2013Dự phòng rủi ro tín dụng là khoản được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động nhằm trích lập dự phòng rủi ro có thể xảy ra đối với các khoản nợ của chi nhánh ngân hàng, tổ chức tín dụng nước ngoài.

Cả Thông tư 02 và Quyết định 493 của Ngân hàng Nhà nước đều quy định dự phòng rủi ro tín dụng gồm 02 loại: dự phòng cụ thể và dự phòng chung.

  • Dự phòng cụ thể là khoản tiền được lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ đã xác định.
  • Dự phòng chung là khoản ngân hàng trích lập để dự phòng cho những tổn thất không xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể hoặc các khó khăn tài chính khác.

du_phong_rui_ro_tin_dung_la_gi_luanvan99
Khái niệm dự phòng rủi ro tín dụng là gì?

Có thể bạn quan tâm:

➢ Rủi ro tín dụng là gì? Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại

➢ Các chủ đề luận văn thạc sĩ miễn phí & mới nhất về Tài chính – Ngân hàng

Dự phòng rủi ro tín dụng là gì?

Theo khái niệm, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được hiểu là phương pháp được ngân hàng sử dụng nhằm mục đích ghi nhận khoản lỗ so với giá trị ghi nhận ban đầu của khoản vay của khách hàng.

Trên bảng cân đối của ngân hàng, dự phòng rủi ro tín dụng là một hạng mục của tài sản và làm giảm giá trị của tài sản. Điều này phản ánh sự suy thoái của tài sản khi đối mặt với rủi ro tín dụng tiềm ẩn.

Trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, dự phòng là một khoản chi phí không phải bằng tiền, được ghi nhận làm giảm lợi nhuận / vốn chủ sở hữu của ngân hàng.

Xem thêm  Marketing dịch vụ là gì? Cơ sở lý luận về Marketing dịch vụ

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng phải trích lập dự phòng chung bằng 0,75% tổng dư nợ cho vay từ nhóm 1 đến nhóm 4 với tỷ lệ như sau: nhóm 1 (0%), nhóm 2 (5%), nhóm 3 (20%), nhóm 4 (50%) và nhóm 5 (100%).

Theo Thông tư 02/2013 / TT-NHNN quy định phải trích lập hai loại dự phòng là dự phòng chung và dự phòng cụ thể.

Sao lưu chung

Dự phòng chung là khoản được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra. Dự phòng chung được xác định sau khi đã trích lập dự phòng cụ thể.

Công thức tính dư thừa chung:

Số dự phòng phải trích chung được xác định bằng 0,75% trên tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4, trừ:

  • Tiền gửi (trừ tiền gửi thanh toán) tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật, tại tổ chức tín dụng trong nước và tiền gửi tại tổ chức tín dụng nước ngoài.
  • Cho vay, mua có kỳ hạn giấy tờ có giá đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác tại Việt Nam, tổ chức tín dụng.

Dự phòng cụ thể

Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể.

Công thức tính trữ lượng cụ thể:

R = tối đa {0, (A – C)} xr

Trong đó:

R: Số dự phòng cụ thể phải trích.

A: Dư nợ gốc.

C: Giá trị được khấu trừ của tài sản thế chấp.

r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể.

Chúng ta thấy rằng số tiền trích lập dự phòng cụ thể (R) phụ thuộc vào số nợ (A) và tỷ lệ trích lập dự phòng (r) cũng như giá trị của tài sản đảm bảo (C). Nếu giá trị tài sản đảm bảo sau khi tính toán lớn hơn giá trị khoản nợ thì số dự phòng cũng bằng 0, nghĩa là ngân hàng không cần trích lập quỹ dự phòng cho khoản nợ đó.

Ghi chú:

Giá trị phân bổ của tài sản thế chấp (C) được xác định bằng tích của tỷ lệ khấu trừ đối với từng loại tài sản thế chấp với giá trị của tài sản thế chấp.

Trong đó:

  • Giá trị của tài sản đảm bảo được xác định dựa trên: Vàng miếng; Trái phiếu Chính phủ và chứng khoán do doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán; Tài sản cho thuê tài chính; Bất động sản, động sản và các loại tài sản thế chấp khác.
  • Tỷ lệ khấu trừ đối với từng loại tài sản đảm bảo do Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ. Tỷ lệ trích lập do ngân hàng xác định trên cơ sở giá trị thu hồi được từ việc bán tài sản bảo đảm sau khi trừ chi phí bán tài sản bảo đảm dự kiến ​​tại thời điểm trích lập dự phòng, nhưng không vượt quá tỷ lệ trích tối đa quy định tại bảng dưới đây:

ty_le_khau_tru_toi_da_doi_voi_tai_san_dam_bao_luanvan99Bảng tỷ lệ khấu trừ tối đa đối với tài sản thế chấp

  • Tỷ lệ trích lập dự phòng (r) đối với từng nhóm nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước:

ty_le_trich_lap_du_phong_luanvan99Bảng tỷ lệ trích dẫn dự phòng

Sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng

Mục đích của việc trích lập dự phòng là để bù đắp tổn thất cho các khoản vay tín dụng, trong đó:

Xem thêm  Kinh tế thị trường là gì? Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Quỹ dự phòng được ngân hàng sử dụng để xử lý rủi ro tín dụng xảy ra đối với các khoản nợ như: Khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp giải thể, phá sản, cá nhân chết, mất tích; Nợ được xếp vào nhóm 5.

Nguyên tắc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro:

Sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng đối với các khoản nợ trên.

Ngân hàng thực hiện phát mại tài sản để thu hồi nợ trong trường hợp không đủ dự phòng cụ thể để xử lý nợ theo thoả thuận.

Nếu khoản dự phòng cụ thể và tiền bán tài sản không đủ bù đắp rủi ro cho khoản nợ thì phải sử dụng quỹ dự phòng chung.

Nếu khoản dự phòng chung không đủ để xử lý thì ngân hàng phải hạch toán trực tiếp số chênh lệch dự phòng vào chi phí hoạt động.

Ngân hàng phải hạch toán ngoại bảng số dư nợ đã được xử lý rủi ro.

Việc ngân hàng sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng không có nghĩa là ngân hàng xóa nợ cho khách hàng. Việc xử lý rủi ro tín dụng hoàn toàn được bảo mật, không thông báo cho khách hàng.

Sau khi đã sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro, ngân hàng phải chuyển các khoản nợ đã xử lý từ tất cả các tài khoản nội bảng sang tài khoản ngoại bảng để theo dõi và có biện pháp thu nợ triệt để.

Sau 5 năm kể từ ngày sử dụng khoản dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng, ngân hàng được phép thanh toán các khoản nợ đã xử lý rủi ro tín dụng ngoại bảng đối với khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp. bị giải thể, phá sản hoặc cá nhân chết, mất tích. Với các ngân hàng thương mại quốc doanh, việc thanh toán chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước.

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp tín dụng là gì?

Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại, trong đó một số yếu tố phổ biến bao gồm: tốc độ tăng trưởng GDP, quy mô ngân hàng, chất lượng tín dụng, lãi suất, tỷ lệ thất nghiệp, vốn chủ sở hữu, cơ cấu lại nợ, giá trị tài sản đảm bảo … , chúng ta sẽ tìm hiểu về một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Đặc biệt:

Tăng trưởng GDP

Điều kiện kinh tế vĩ mô rất quan trọng đối với rủi ro tín dụng, nếu GDP tăng thì khả năng trả nợ của doanh nghiệp sẽ được nâng cao. Doanh nghiệp trả nợ đúng hạn, nợ khó đòi thấp nên dự phòng rủi ro tín dụng ngắn. Ngược lại, nếu nền kinh tế suy thoái, GDP giảm thì các khoản vay khó trả đúng hạn, nợ xấu tăng và trích lập dự phòng rủi ro tăng.

Lãi suất

Lãi suất và dự phòng rủi ro tín dụng có mối quan hệ cùng chiều. Theo đó, lãi suất tăng sẽ khiến cá nhân giảm đi vay và tăng tiết kiệm, giảm nhu cầu đầu tư và chi tiêu cá nhân, gây khó khăn cho hoạt động tiêu thụ hàng hóa và cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp. Khi mở rộng sản xuất, doanh thu và lợi nhuận doanh nghiệp giảm. Điều này khiến nợ xấu gia tăng, các ngân hàng thương mại buộc phải tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.

Xem thêm  Môi trường đầu tư là gì? Giải pháp cải thiện môi trường đầu tư

Nợ xấu

Theo Eng và Nabr (2007), trích lập dự phòng có mối quan hệ cùng chiều với dư nợ tín dụng và sự thay đổi của nợ xấu.

Tỷ lệ rủi ro tín dụng

Theo Davis và Zhu (2009), Bikker và cộng sự (2005), tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản và dự phòng rủi ro tín dụng có mối quan hệ cùng chiều, nghĩa là nếu tỷ hạ mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và ngược lại.

Tuy nhiên vẫn có những kết quả nghiên cứu chưa phù hợp với các nghiên cứu trên, nghiên cứu của Cavallo và Majnoni (2002) cho kết quả là tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản và dự phòng tín dụng có tương quan nghịch.

Tăng trưởng tín dụng

Theo quan điểm của Cavallo & Majnoni (2002), Laeven et al. (2003) và Davis và Zhu (2009) đều đồng ý rằng tăng trưởng tín dụng có mối tương quan nghịch với cung cấp tín dụng.

Tuy nhiên, trái ngược với các tác giả trên, kết quả nghiên cứu của Bikker et al. (2005) cho thấy rằng tăng trưởng tín dụng có tác động tích cực đáng kể đến việc cung cấp tín dụng.

Quy mô ngân hàng

Theo Eng và Nabr (2007), quy mô ngân hàng và trích lập dự phòng có quan hệ ngược chiều nhau, tức là quy mô ngân hàng càng lớn thì trích lập dự phòng càng nhỏ và ngược lại.

Rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi khi ngân hàng cho vay. Tuy nhiên, với các biện pháp nghiệp vụ và xử lý phù hợp, ngân hàng sẽ ngăn chặn được mức tổn thất ở mức thấp nhất. Hi vọng những kiến ​​thức xoay quanh khái niệm “Dự phòng rủi ro tín dụng là gì?“bao gồm khái niệm, cách trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro. Luận văn 99 được chia sẻ trong bài viết này sẽ hữu ích với tất cả các bạn.

Như vậy, trong nội dung bài viết trên đây, Huế Packaging đã cập nhật cho bạn thông tin về “Dự phòng rủi ro tín dụng là gì? Nhân tố ảnh hưởng đến dự phòng RRTD❤️️”. Hy vọng thông qua những gì bài viết “Dự phòng rủi ro tín dụng là gì? Nhân tố ảnh hưởng đến dự phòng RRTD” đã chia sẻ có thể giúp bạn đọc thêm nhiều thông tin về “Dự phòng rủi ro tín dụng là gì? Nhân tố ảnh hưởng đến dự phòng RRTD [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết về “Dự phòng rủi ro tín dụng là gì? Nhân tố ảnh hưởng đến dự phòng RRTD” được sưu tầm và đăng bởi admin Huế Packaging vào ngày 2022-06-13 15:54:02. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại HuePackaging.Com

Rate this post