Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là gì? Khái niệm, vai trò của DNNQD

Với chính sách mở cửa nền kinh tế năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc. Trong sự phát triển đó, sự đóng góp của các thành phần kinh tế như doanh nghiệp ngoài quốc doanh là rất quan trọng. Trong bài viết hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu kỹ hơn về các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thông qua khái niệm Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là gì?đặc điểm, vai trò và cách phân loại của loại hình doanh nghiệp này!

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là gì?

Trước khi đi vào tìm hiểu doanh nghiệp ngoài quốc doanh là gì, chúng ta cùng tìm hiểu khái niệm doanh nghiệp:

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2015: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản cố định, trụ sở giao dịch được đăng ký giấy phép kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện hoạt động kinh doanh. việc kinh doanh”

Theo đó, doanh nghiệp ngoài quốc doanh (tiếng Anh: Non-state Enterprises) Doanh nghiệp tư nhân hay còn gọi là doanh nghiệp tư nhân là từ dùng để chỉ các loại hình doanh nghiệp do cá nhân, tổ chức Việt Nam góp vốn thành lập hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài thường trú tại Việt Nam. Theo đó, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là doanh nghiệp mà nguồn vốn thuộc sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân của một người hoặc một nhóm người, Nhà nước làm chủ sở hữu nhưng chỉ chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống. về lâu dài, bình đẳng trước pháp luật và sinh lợi hợp pháp, chủ động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật.

business_enterprise_foreign_quoc_enterprise_la_gi_luanvan99

Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh là gì?

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có đặc điểm gì?

Người đầu tiên, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh năng lực tài chính còn hạn chế: Nhìn chung, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có năng lực tài chính khá hạn chế, nguồn vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là từ nguồn vốn vay của nhân dân. cá nhân, vay từ khu vực tín dụng phi chính thức hoặc một phần từ hoạt động cho vay của ngân hàng. Vì năng lực tài chính quyết định uy tín của doanh nghiệp, khả năng chủ động trong sản xuất kinh doanh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và mục tiêu giảm thiểu chi phí bằng cách chủ động khai thác, sử dụng tối ưu. tài nguyên đầu vào. Có thể nói, vốn là vấn đề nan giải nhất đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Thứ hai, Cơ cấu quản lý linh hoạt: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường có cơ cấu tổ chức đơn giản, số lượng lao động ít, người lao động thường đảm nhận công việc theo kiểu nhiều mặt. Hầu hết các chủ doanh nghiệp phải đảm nhận cả hai vai trò quản lý và lãnh đạo. Mặt khác, vốn của thành phần kinh tế do các chủ thể kinh doanh tự nguyện, các cổ đông, liên doanh, … đóng góp bằng tiền hoặc tài sản. Do đó, họ có toàn quyền quyết định ngành, nghề kinh doanh phù hợp với khả năng và nhu cầu của thị trường và loại hàng hóa mà họ kinh doanh. Tuy quy mô nhỏ nhưng đây là một lợi thế để các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng tốc độ luân chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Xem thêm  Khái niệm, công thức tính lợi nhuận trước thuế

Thứ ba, Công nghệ và kỹ thuật sản xuất chưa đồng bộ: Trình độ công nghệ là yếu tố quyết định đến năng suất, chất lượng sản phẩm, … Hiện nay, doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường được trang bị công nghệ hiện đại chưa nhiều mà còn sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu, thiếu đồng bộ. Điều này làm cho năng suất và chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh rất thấp, sử dụng lãng phí nguyên vật liệu.

Thứ Tư, tính chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng thích ứng: Do quy mô hoạt động nhỏ cùng với khả năng tự quyết định nên các nhà quản lý có thể nắm bắt các cơ hội kinh doanh thuận lợi. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của môi trường. Việc gia nhập thị trường hàng hóa trong giai đoạn này sẽ mang lại thành công cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, và khi sản phẩm bị thị trường từ chối thì các doanh nghiệp này cũng dễ dàng rút lui và lựa chọn sản phẩm kinh doanh. khác trong phạm vi cho phép để có lợi nhất với khả năng của mình. Đây cũng là một thế mạnh để các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia thị trường cùng với các doanh nghiệp nhà nước.

dac_diem_cua_business_nghiep_foreign_quoc_business_luanvan99
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có đặc điểm gì?

xem thêm:

➢ Đề tài luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế mới nhất.

Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Công ty TNHH 2 thành viên trở lên

Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2015 quy định công ty TNHH 2 thành viên trở lên là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân góp vốn không quá 50 thành viên:

  • Thành viên tham gia có thể là tổ chức hoặc cá nhân.
  • Thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ hoặc nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp.
  • Phần vốn góp của các thành viên chỉ được chuyển nhượng căn cứ theo quy định của pháp luật.

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

  • Là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ
  • Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về rủi ro của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.
  • Về cơ bản, khái niệm công ty TNHH một thành viên có nhiều điểm tương đồng với khái niệm công ty TNHH hai thành viên trở lên. Sự khác biệt chính là số lượng thành viên trong công ty.
  • Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được phát hành cổ phiếu.

Công ty Cổ phần

Theo Luật Doanh nghiệp 2015, công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, theo đó:

  • Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần và người sở hữu số cổ phần này được gọi là cổ đông.
  • Cổ đông có thể được coi là tổ chức hoặc cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không giới hạn số lượng tối đa.
  • Cổ đông có cổ phần phổ thông được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đối với doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. .
  • Công ty cổ phần được phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật.
Xem thêm  Quy phạm pháp luật là gì? Các bộ phận cấu thành quy phạm pháp luật

Quan hệ đối tác

Công ty hợp danh là doanh nghiệp có đủ các điều kiện sau đây:

  • Có ít nhất 2 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng kinh doanh dưới tên chung đã thoả thuận và có thể có thêm thành viên góp vốn.
  • Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
  • Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp.
  • Công ty hợp danh không được phép phát hành chứng khoán.

Doanh nghiệp tư nhân

Sở hữu độc quyền là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp 2005).

  • Doanh nghiệp tư nhân không được phép phát hành chứng khoán
  • Mỗi cá nhân chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân

Nói ngắn gọn, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là hình thức doanh nghiệp không do Nhà nước làm chủ sở hữu. Toàn bộ vốn, lợi nhuận và tài sản của doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều thuộc sở hữu tư nhân hoặc thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, tập thể người lao động và họ có toàn quyền quyết định phương thức phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp. hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước. Đồng thời, doanh nghiệp ngoài quốc doanh không chịu bất kỳ ảnh hưởng nào từ các quyết định của Nhà nước hoặc cơ quan quản lý.

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp của cả nước, trong đó công ty trách nhiệm hữu hạn cũng chiếm số lượng lớn hơn so với các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có vai trò như thế nào trong nền kinh tế Việt Nam?

role_tro_cua_business_nghiep_foreign_quoc_business_luanvan99
Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nền kinh tế Việt Nam

Người đầu tiên, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư của tư nhân vào hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như khai thác các nguồn vốn trong nước: Sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã hình thành một kênh đầu tư mới nhằm khai thác và phát huy hiệu quả các nguồn vốn đầu tư. của xã hội trong hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các ngành, lĩnh vực phù hợp với chính sách khuyến khích đầu tư trong nước, khắc phục xu hướng chỉ dựa vào vốn đầu tư. Nhờ đa dạng hóa các loại hình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thu hút một lượng vốn đáng kể. Mặc dù lượng vốn thu hút vào mỗi doanh nghiệp không quá lớn nhưng số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng nhiều đã dẫn đến lượng vốn thu hút vào sản xuất kinh doanh ngày càng tăng.

Xem thêm  Tháp nhu cầu của Maslow - Tổng quan, phân tích và ví dụ

Thứ haiDoanh nghiệp ngoài quốc doanh đã góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn nền kinh tế: các doanh nghiệp ngoài quốc doanh với nhiều lĩnh vực hoạt động đã tạo ra môi trường cạnh tranh. cạnh tranh trong nền kinh tế với các doanh nghiệp nhà nước. Sự phát triển này đã tác động mạnh mẽ đến các doanh nghiệp nhà nước, buộc các doanh nghiệp nhà nước phải đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức kinh doanh để tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường. Vì thế, phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã góp phần quan trọng vào việc hình thành và xác lập vị thế của chủ thể sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ chế thị trường, thúc đẩy hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước tiến lên. Đổi mới và cải cách cơ chế quản lý theo hướng thị trường, mở cửa hợp tác với bên ngoài, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh.

Thứ ba, góp phần tăng thu ngân sách Nhà nước: Doanh nghiệp phát triển trở thành tiền để tạo nguồn thu ngân sách nhà nước. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tồn tại và phát triển, đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước thông qua thuế và các khoản nộp khác, có vai trò điều tiết thu nhập và đóng góp cho ngân sách nhà nước.

Thứ TưDoanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần tạo ra một thị trường vốn rộng lớn và đầy tiềm năng cho các ngân hàng thương mại: doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng phát triển, nhất là trong thành phần kinh tế cá thể và doanh nghiệp. Với sự phát triển nhanh chóng cả về quy mô và chất lượng, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã tạo ra nhu cầu lớn cho các ngân hàng về vốn, thanh toán và dịch vụ qua các ngân hàng thương mại, từ đó giúp các ngân hàng ngày càng phát triển.

Chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu về khái niệm, nội dung và vai trò của Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là gì?. Đây là thành phần kinh tế quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước. Hy vọng những thông tin trên đã mang đến cho bạn những kiến ​​thức tham khảo hữu ích, phục vụ cho quá trình học tập và nghiên cứu của bạn.

Như vậy, trong nội dung bài viết trên đây, Huế Packaging đã cập nhật cho bạn thông tin về “Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là gì? Khái niệm, vai trò của DNNQD❤️️”. Hy vọng thông qua những gì bài viết “Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là gì? Khái niệm, vai trò của DNNQD” đã chia sẻ có thể giúp bạn đọc thêm nhiều thông tin về “Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là gì? Khái niệm, vai trò của DNNQD [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết về “Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là gì? Khái niệm, vai trò của DNNQD” được sưu tầm và đăng bởi admin Huế Packaging vào ngày 2022-06-13 15:30:06. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại HuePackaging.Com

Rate this post